Trong lý thuyết về phát triển hiện đại, khái niệm thịnh vượng của một quốc gia đang có sự dịch chuyển mạnh mẽ từ mô hình tăng trưởng kinh tế thuần túy (GDP) sang mô hình phát triển bao trùm và bền vững. Từ năm 2012, khi Liên Hợp Quốc chính thức chọn ngày 20/3 là Ngày Quốc tế Hạnh phúc, một thông điệp mang tính thời đại đã được xác lập: Chỉ số hạnh phúc của người dân mới là thước đo chính xác nhất cho sự thành công của một thể chế. Đối với dân tộc Việt Nam, khái niệm “Hạnh phúc” không phải là một điều gì đó mới mẻ hay xa lạ được du nhập từ bên ngoài mà ngay từ những ngày đầu gây dựng nền độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta – đã đặt nền móng vững chắc cho tư tưởng này bằng một chân lý giản dị nhưng vô cùng sâu sắc: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[1]. Lời dạy ấy của Người, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, cho đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị thời đại và mang tính dự báo sâu sắc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không nhìn nhận độc lập dân tộc như một danh xưng trừu tượng hay một biểu tượng khô khan trên bản đồ thế giới. Với Người, độc lập phải là “công cụ”, là “phương tiện” để đi đến mục đích cuối cùng: Đó là quyền được sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân. Một quốc gia dù có chủ quyền, có quân đội mạnh, có vị thế quốc tế nhưng nếu người dân vẫn còn đói nghèo, mù chữ, hay sống trong sự sợ hãi và bất công, thì cái gọi là “độc lập” ấy chưa trọn vẹn, chưa chạm tới bản chất nhân văn của cách mạng.
Trong tư duy của Bác, hạnh phúc rất cụ thể: là cái ăn, cái mặc, là việc học hành của trẻ nhỏ, là sự tự do của mỗi cá nhân trong một xã hội công bằng. Người từng khẳng định: “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi dân được ăn no, mặc đủ”[2]. Điều này cho thấy, hạnh phúc trong tư tưởng của Người rất cụ thể, thiết thực, gắn liền với “cơm ăn, áo mặc”, với việc “trẻ em được học hành” và một xã hội công bằng, nơi mỗi cá nhân đều có quyền mưu cầu sự phát triển. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, chúng ta giành lại độc lập là để có Quyền tự quyết – tự quyết định vận mệnh và chăm lo cho đời sống của đồng bào mình. Nếu nước độc lập mà dân vẫn đói nghèo, mù chữ, hay sống trong bất công, thì cái gọi là “độc lập” ấy chưa trọn vẹn, độc lập dân tộc là điều kiện cần, nhưng hạnh phúc của nhân dân mới là điều kiện đủ để tạo nên một quốc gia bền vững.
Tiếp nối tâm nguyện vĩ đại của Người, Đảng và Nhà nước ta đã kế thừa và phát triển tư tưởng hạnh phúc thành những mục tiêu chiến lược đột phá, biến nghĩa lý của độc lập thành hiện thực sống động trong quá trình phát triển của đất nước. Lần đầu tiên trong lịch sử, tại Đại hội XIII, Đảng ta đã xác định mục tiêu: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”[3]. Đây là một bước ngoặt về tư duy, chuyển từ việc chỉ chú trọng tăng trưởng kinh tế (GDP) sang chú trọng chất lượng sống và sự hài lòng của người dân. Hạnh phúc của nhân dân chính là thước đo giá trị cao nhất của mọi chính sách phát triển. Đến Đại hội XIV là dấu mốc quan trọng để hiện thực hóa tầm nhìn 2045, Đảng xác định mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, nơi người dân không chỉ giàu có về vật chất mà còn có đời sống tinh thần phong phú, tự do và thực sự hạnh phúc – đúng như mong ước cháy bỏng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong giai đoạn hiện nay, lời dạy của Bác đã được Đảng và Nhà nước ta hiện thực hóa bằng những kỳ tích có thật. Minh chứng sống động nhất là việc Việt Nam liên tục thăng tiến trên bản đồ hạnh phúc thế giới. Trong Báo cáo Hạnh phúc Thế giới 2025 công bố ngày 19/3/2026, Việt Nam xếp vị trí thứ 46, đạt thứ hạng cao nhất từ trước đến nay trên bảng xếp hạng Chỉ số Hạnh phúc. Đây không chỉ là một con số, đó là kết quả của những chính sách “vì dân” được thực thi quyết liệt, một bước tiến dài khẳng định sự ổn định và chất lượng sống của Nhân dân ngày càng nâng cao. Chúng ta có thể tự hào khẳng định rằng Việt Nam không chỉ độc lập mà đang ngày càng hạnh phúc hơn theo tiêu chuẩn quốc tế: Năm 2025, Việt Nam hiện là quốc gia hạnh phúc thứ 2 tại Đông Nam Á (chỉ sau Singapore) và nằm trong nhóm các quốc gia có sự cải thiện chỉ số hạnh phúc nhanh nhất thế giới; nằm trong nhóm các nước có chỉ số phát triển con người (HDI) cao; là “điểm sáng” về xóa đói giảm nghèo khi tỷ lệ nghèo đa chiều giảm xuống dưới 3%, hiện thực hóa mong muốn “ai cũng có cơm ăn, áo mặc” của Người. Bên cạnh đó, với tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 93% và tỷ lệ biết chữ gần 98%, mỗi người dân Việt Nam hôm nay đang thực sự thụ hưởng những thành quả của độc lập thông qua quyền được chăm sóc sức khỏe và quyền được giáo dục. Như vậy, độc lập tạo ra cơ hội, nhưng chính sự ấm no và hạnh phúc mới tạo nên giá trị bền vững cho quốc gia. Chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân chính là cách tốt nhất để chúng ta bảo vệ và làm rạng rỡ thêm nền độc lập dân tộc mà cha ông đã hy sinh xương máu để giành lấy.
Quảng Ninh là một trong những địa phương đi đầu và thành công trong việc hiện thực hóa triết lý “lấy hạnh phúc của nhân dân làm thước đo”. Tại Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (nhiệm kỳ 2025-2030) đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong tư duy lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh khi xác định mục tiêu trung tâm là “nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân”, lấy sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo hiệu quả quản lý. Hiện thực hóa lời dạy của Bác, qua 40 năm đổi mới, tỉnh Quảng Ninh không chỉ nhìn vào những con số tăng trưởng GRDP tốp đầu cả nước mà đã chuyển hóa nguồn lực kinh tế thành chất lượng sống thực tế cho người dân qua các hành động cụ thể: Nhiều năm liên tiếp đứng đầu cả nước về chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS); mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công hiện đại từ cấp tỉnh đến cấp xã, giúp người dân giải quyết thủ tục nhanh chóng, minh bạch; đầu tư cho các vùng khó khăn, xóa bỏ sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn. Tỉnh ban hành các nghị quyết riêng về phát triển bền vững kinh tế – xã hội gắn với bảo đảm vững chắc quốc phòng – an ninh tại các xã, thôn, bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hiện nay, tỉnh không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của Trung ương. Với những kết quả đạt được, Quảng Ninh được coi là “hình mẫu” của cả nước trong việc chuyển hóa sự thịnh vượng kinh tế thành chỉ số hạnh phúc thực tế.
Tư duy hành động này đồng thời thẩm thấu sâu sắc tinh thần Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 30/10/2023 của Tỉnh ủy về xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Quảng Ninh. Bằng cách đặt con người vào trung tâm của sự phát triển và coi văn hóa là nguồn lực nội sinh, tỉnh không chỉ hướng đến các con số tăng trưởng kinh tế thuần túy mà còn tập trung phát triển mạnh mẽ kinh tế di sản, công nghiệp văn hóa và bảo đảm an sinh xã hội toàn diện. Sự kết nối mang tính tầm vóc của triết lý “Lấy hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo” này đã làm sâu sắc thêm mục tiêu phấn đấu với 6 giá trị cốt lõi: “Thiên nhiên tươi đẹp, Văn hóa đặc sắc, Xã hội văn minh, Hành chính minh bạch, Kinh tế phát triển, Nhân dân hạnh phúc”. Đây không chỉ là triết lý phát triển bền vững xuyên suốt mà còn là định hướng chiến lược định vị thương hiệu địa phương, đưa Quảng Ninh phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc và nâng cao chất lượng sống thực tế cho mỗi người dân đất mỏ theo lời dạy của Bác.
Trong không khí phấn khởi của những ngày Tháng Năm lịch sử, chúng ta càng thấm thía lời dạy của Bác: Hạnh phúc không chỉ là những chỉ số tăng trưởng GDP khô khan, mà đã được nâng tầm thành hệ giá trị cốt lõi trong tư duy quản trị quốc gia. Việc xác lập mục tiêu “Lấy hạnh phúc của nhân dân làm thước đo tối cao” cho mọi quyết sách phát triển là một bước tiến quan trọng về mặt lý luận của Đảng và Nhà nước. Đây là sự kế thừa tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, đồng thời là sự phản hồi khoa học trước những thách thức của thời đại mới: khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên nhưng áp lực xã hội, môi trường và sự bất bình đẳng vẫn là những rào cản đối với sự phát triển bền vững. Lời dạy của Bác chính là kim chỉ nam nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi công dân rằng: Mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước phải xoay quanh trục giá trị cốt lõi là lợi ích của Nhân dân.
[1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
[2] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
[3] Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XIII của Đảng
Trần Thị Thu Trang, Khoa Nhà nước và Pháp luật






