Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 – Bước mở đầu thắng lợi của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam

04/03/2026

          Hoàn cảnh và nội dung cơ bản của Hiệp định

          Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đối mặt với tình thế đặc biệt hiểm nghèo khi cùng lúc đứng trước nhiều nguy cơ từ bên ngoài và các thế lực phản động trong nước. Việc bảo vệ chính quyền cách mạng vừa mới ra đời trở thành nhiệm vụ sống còn, đòi hỏi Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh phải có những quyết sách chiến lược đúng đắn, linh hoạt và sáng tạo, đặc biệt trên mặt trận ngoại giao.

          Theo thỏa thuận của các nước đồng minh tại Hội nghị Potsdam, khoảng 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch kéo vào miền Bắc Việt Nam với danh nghĩa giải giáp quân Nhật, nhưng thực chất nhằm thực hiện âm mưu chống phá và thủ tiêu chính quyền cách mạng. Đi cùng lực lượng này là các tổ chức phản động như Việt Quốc, Việt Cách, gây nhiều khó khăn về chính trị và an ninh. Trong khi đó, ở miền Nam, thực dân Pháp núp bóng quân Anh quay trở lại xâm lược nước ta. Chính quyền cách mạng đứng trước nguy cơ phải đối đầu cùng lúc với nhiều kẻ thù trong điều kiện lực lượng còn hết sức non yếu.

          Ngày 28/2/1946, tại Trùng Khánh (Trung Quốc), Chính phủ Pháp và Chính phủ Tưởng Giới Thạch ký Hiệp ước Hoa – Pháp, thỏa thuận cho quân Pháp ra miền Bắc Việt Nam thay thế quân Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Thỏa thuận này được ký kết mà không có sự tham gia của Việt Nam, đặt chính quyền cách mạng vào tình thế hết sức bất lợi.

          Trước tình hình đó, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn sách lược hòa hoãn tạm thời với thực dân Pháp nhằm tránh thế đối đầu cùng lúc với nhiều kẻ thù, tranh thủ thời gian củng cố lực lượng cách mạng. Chủ trương này thể hiện tư duy chiến lược sắc bén: kiên định mục tiêu độc lập dân tộc nhưng linh hoạt về sách lược đấu tranh.

          Ngày 6/3/1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Pháp ký kết Hiệp định Sơ bộ với những nội dung cơ bản:

          Về chính trị – pháp lý: Chính phủ Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có Chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng, nằm trong Liên hiệp Pháp; vấn đề thống nhất ba kỳ do nhân dân Việt Nam quyết định.

          Về quân sự: Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc thay thế quân Tưởng Giới Thạch; quân Pháp phải rút dần và rút hết trong thời hạn 5 năm.

          Về ngoại giao: Hai bên thực hiện đình chiến và tiếp tục đàm phán chính thức nhằm giải quyết các vấn đề còn tồn tại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Anh, Mỹ, Trung Quốc tại Lễ ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946. Ảnh tư liệu

          Việc ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 được xem là một thắng lợi quan trọng bước đầu của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam.

          Trước hết, Hiệp định đã tạo cơ sở pháp lý quốc tế đầu tiên ghi nhận sự tồn tại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với tư cách một chủ thể chính trị độc lập. Đây là bước tiến quan trọng khẳng định Việt Nam không còn là thuộc địa của thực dân Pháp, đồng thời mở ra khả năng tranh thủ sự công nhận rộng rãi của cộng đồng quốc tế.

          Thứ hai, Hiệp định thể hiện nghệ thuật ngoại giao mềm dẻo nhưng kiên định nguyên tắc của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng việc chấp nhận nhân nhượng có giới hạn, ta đã phân hóa các thế lực đối địch, buộc quân Tưởng phải rút khỏi Việt Nam, loại bỏ nguy cơ nguy hiểm trước mắt đối với chính quyền cách mạng.

          Thứ ba, quyết sách ký Hiệp định Sơ bộ đã giúp cách mạng Việt Nam giành được thời gian hòa hoãn quý báu để củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng vũ trang, ổn định đời sống nhân dân và chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp mà Đảng ta dự liệu là khó tránh khỏi.

          Đánh giá về quyết sách này, đồng chí Lê Duẩn khẳng định việc tạm thời hòa hoãn với Pháp để buộc quân Tưởng rút khỏi nước ta là một điển hình sinh động của sách lược cách mạng biết lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù nhằm phục vụ lợi ích dân tộc.

          Liên hệ với bối cảnh tình hình hiện nay

          Tám mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 được ký kết, song giá trị lịch sử và những bài học chiến lược từ sự kiện này vẫn mang ý nghĩa thời sự sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới. Trong điều kiện thế giới đang có những biến động nhanh chóng, phức tạp và khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, bài học về nghệ thuật ngoại giao của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục soi sáng đường lối đối ngoại của Việt Nam hiện nay.

          Trước hết, Hiệp định Sơ bộ năm 1946 khẳng định một nguyên tắc có tính xuyên suốt của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam: kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia nhưng linh hoạt về phương thức và sách lược hành động. Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam tiếp tục vận dụng sáng tạo nguyên tắc đó thông qua đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, không liên minh quân sự, không đứng về bên này chống bên kia, kiên trì bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế. Đây chính là sự kế thừa nhất quán tư duy “dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ nét khi ký kết Hiệp định Sơ bộ năm 1946.

          Thứ hai, bài học về xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn từ Hiệp định Sơ bộ vẫn còn nguyên giá trị. Năm 1946, trong thế trận quốc tế phức tạp, Đảng ta đã khôn khéo lợi dụng mâu thuẫn giữa các thế lực bên ngoài để giảm thiểu nguy cơ đối đầu trực tiếp, tạo không gian chiến lược cho cách mạng phát triển. Ngày nay, trong bối cảnh cạnh tranh địa – chính trị ngày càng gia tăng, Việt Nam chủ trương mở rộng quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với nhiều quốc gia, đồng thời giữ vững cân bằng chiến lược, không để đất nước rơi vào thế bị cô lập hoặc phụ thuộc. Điều đó cho thấy sự tiếp nối nhất quán của tư duy ngoại giao vì hòa bình, ổn định và phát triển.

          Thứ ba, Hiệp định Sơ bộ năm 1946 để lại bài học sâu sắc về tận dụng thời cơ quốc tế để củng cố nội lực quốc gia. Việc chấp nhận hòa hoãn khi tương quan lực lượng chưa có lợi đã giúp nước ta tranh thủ thời gian quý báu để xây dựng thực lực cách mạng. Trong giai đoạn hiện nay, đường lối đối ngoại của Việt Nam tiếp tục hướng tới mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định nhằm phục vụ phát triển đất nước, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Ngoại giao vì phát triển, ngoại giao phục vụ người dân và doanh nghiệp chính là sự phát triển mới của tư duy ngoại giao cách mạng trong thời đại hội nhập sâu rộng.

          Thứ tư, từ Hiệp định Sơ bộ có thể rút ra bài học quan trọng về sự kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Ngoại giao không tách rời sức mạnh tổng hợp của quốc gia mà luôn gắn với củng cố nội lực chính trị, kinh tế, quốc phòng và niềm tin của nhân dân. Trong bối cảnh hiện nay, việc xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “ngoại giao cây tre Việt Nam” – mềm dẻo nhưng kiên cường, linh hoạt nhưng vững nguyên tắc – chính là sự kế thừa sinh động bài học lịch sử từ những quyết sách chiến lược của Đảng ta ngay từ những ngày đầu lập nước.

          Có thể khẳng định rằng, Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 không chỉ là dấu mốc mở đầu cho thắng lợi của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam mà còn đặt nền móng cho tư duy đối ngoại độc lập, tự chủ và nhân văn của Việt Nam trong suốt tiến trình phát triển đất nước. Những giá trị lịch sử đó tiếp tục được vận dụng sáng tạo, góp phần nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.

          Tài liệu tham khảo:

          1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1964), Văn kiện Đảng (1945–1947), Nxb Sự thật, Hà Nội.

          2. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

          3. Philippe Devillers (1993), Tài liệu lưu trữ chiến tranh 194–1947, Nxb TP. Hồ Chí Minh.

          4. Lê Duẩn (1979), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội.

ThS. Ngô Thị Ninh Dung- khoa Xây dựng Đảng