Nâng cao chất lượng lồng ghép kiến thức dân tộc vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng tại Trường Chính trị Vũ Văn Hiếu trong giai đoạn hiện nay

22/10/2026

          Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công tác dân tộc luôn giữ vị trí chiến lược quan trọng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Quán triệt quan điểm nhất quán của Đảng về công tác dân tộc, việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực tổ chức thực hiện chính sách dân tộc cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở là yêu cầu thường xuyên, lâu dài và có ý nghĩa cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

          Thành phố Quảng Ninh là địa phương có vị trí chiến lược về kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại với 42 dân tộc anh em, trong đó có hơn 162.000 đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống cùng những đặc điểm đa dạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa và xã hội. Sự khác biệt về địa bàn cư trú, điều kiện phát triển, phong tục, tập quán và khả năng tiếp cận các dịch vụ công đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ phải nắm chắc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc, đồng thời có kiến thức thực tiễn, kỹ năng vận động quần chúng và phương pháp tổ chức thực hiện phù hợp với từng địa bàn, từng nhóm đối tượng. Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cán bộ không chỉ cần nắm vững quy định pháp luật mà còn phải có khả năng nhận diện đặc điểm dân tộc, hiểu biết văn hóa cộng đồng, giải quyết những vấn đề phát sinh từ thực tiễn và tạo dựng sự đồng thuận trong Nhân dân. Đây là những năng lực có mối quan hệ chặt chẽ với chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại trường chính trị.

          Với chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Trường Chính trị Vũ Văn Hiếu có vai trò quan trọng trong việc trang bị kiến thức, kỹ năng và năng lực vận dụng thực tiễn cho học viên. Việc lồng ghép kiến thức dân tộc vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cần được thực hiện khoa học, phù hợp với mục tiêu từng chương trình và yêu cầu thực tiễn địa phương, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả thực thi chính sách dân tộc. Đây là cơ sở để nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng lồng ghép kiến thức dân tộc tại Trường trong giai đoạn hiện nay.

          1. Cơ sở và yêu cầu đặt ra đối với việc lồng ghép kiến thức dân tộc trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

          Một là: Lồng ghép kiến thức dân tộc là yêu cầu xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước: Công tác dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là nhiệm vụ cấp bách trong từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đảng và Nhà nước luôn nhất quán quan điểm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển; phát huy nội lực, khai thác tiềm năng, lợi thế của từng vùng; quan tâm phát triển toàn diện kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số. Những quan điểm đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị phải được trang bị đầy đủ kiến thức về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác dân tộc; đồng thời hiểu rõ đặc điểm lịch sử, văn hóa, xã hội và điều kiện phát triển của từng cộng đồng dân tộc. Vì vậy, việc lồng ghép kiến thức dân tộc vào đào tạo, bồi dưỡng cần được thực hiện toàn diện, gắn kiến thức lý luận với hiểu biết thực tiễn, kỹ năng tuyên truyền, vận động và tổ chức thực hiện chính sách tại cơ sở.

          Hai là: Lồng ghép kiến thức dân tộc đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực thực tiễn của cán bộ:

          Trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, cùng một chủ trương, chính sách có thể được triển khai trên nhiều địa bàn với điều kiện kinh tế – xã hội và đặc điểm cộng đồng khác nhau. Nếu cán bộ chỉ nắm được quy định chung mà thiếu hiểu biết về bối cảnh địa phương, phong tục, tập quán và tâm tư, nguyện vọng của người dân thì việc tổ chức thực hiện có thể gặp khó khăn, thậm chí phát sinh những cách hiểu chưa thống nhất hoặc những vướng mắc không đáng có. Vì vậy, lồng ghép kiến thức dân tộc phải hướng tới mục tiêu phát triển năng lực thực hành công vụ. Học viên không chỉ trả lời được câu hỏi “chính sách quy định những gì” mà còn phải giải quyết được các câu hỏi “vận dụng chính sách như thế nào”, “tổ chức thực hiện ra sao” và “làm thế nào để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, đồng thời phát huy sự tham gia chủ động của cộng đồng”.

Giảng viên Trường Chính trị Vũ Văn Hiếu tham gia lớp tập huấn lồng ghép kiến thức dân tộc vào Chương trình Trung cấp lý luận chính trị năm 2026

          Ba là: Lồng ghép kiến thức dân tộc phải phù hợp với đặc điểm địa bàn và đối tượng học viên:

          Quảng Ninh có sự đa dạng về không gian phát triển, bao gồm đô thị, nông thôn, miền núi, biên giới và hải đảo. Đặc điểm này đòi hỏi việc trang bị kiến thức dân tộc phải gắn với những vấn đề thực tiễn của địa phương, tránh áp dụng cách tiếp cận đồng nhất cho mọi địa bàn và mọi đối tượng. Đối với học viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã, kiến thức dân tộc cần gắn với kỹ năng tổ chức thực hiện chính sách, quản lý nhà nước, giải quyết kiến nghị, hòa giải ở cơ sở, tuyên truyền, vận động Nhân dân và xử lý tình huống phát sinh trong cộng đồng. Đối với học viên công tác trong các cơ quan tham mưu, đoàn thể hoặc đơn vị chuyên môn, nội dung lồng ghép cần chú trọng kỹ năng tham mưu chính sách, phối hợp liên ngành, giám sát, phản biện, tuyên truyền và đánh giá kết quả thực hiện. Việc lồng ghép phải có trọng tâm, lựa chọn nội dung và tình huống thực tiễn phù hợp vừa đáp ứng yêu cầu chung, vừa tạo ra giá trị thiết thực cho từng đối tượng học viên.

          2. Giải pháp nâng cao chất lượng lồng ghép kiến thức dân tộc vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng tại Trường Chính trị Vũ Văn Hiếu

          Từ những yêu cầu nêu trên, để nâng cao chất lượng lồng ghép kiến thức dân tộc vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng tại Trường chính trị Vũ Văn Hiếu, cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

          2.1. Nâng cao nhận thức, xác định rõ trách nhiệm của Nhà trường và giảng viên trong lồng ghép kiến thức dân tộc

          Trước hết, cần thống nhất nhận thức trong cấp ủy, lãnh đạo Nhà trường và đội ngũ giảng viên về vị trí, vai trò của kiến thức dân tộc đối với chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Việc lồng ghép cần được xác định là nhiệm vụ chuyên môn gắn với đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy và nâng cao năng lực thực tiễn cho học viên, không phải công việc riêng của một môn học hoặc một nhóm giảng viên.

          Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và chương trình được phê duyệt, Nhà trường cần định hướng rõ yêu cầu tích hợp kiến thức dân tộc vào kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng; xác định trách nhiệm của các khoa, giảng viên trong rà soát nội dung, xây dựng bài giảng và cập nhật tư liệu. Quá trình triển khai phải bảo đảm sự thống nhất về định hướng nhưng linh hoạt trong cách thức thực hiện, phù hợp với đặc điểm từng môn học, từng nhóm học viên và mục tiêu của từng chương trình. Nhà trường tiến hành rà soát, xây dựng khung nội dung lồng ghép kiến thức dân tộc phù hợp với từng chương trình, môn học. Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, quyết định tính hệ thống và hiệu quả của quá trình lồng ghép. Việc rà soát cần trả lời được ba vấn đề: nội dung kiến thức dân tộc nào cần được trang bị; nội dung đó được tích hợp ở môn học, chuyên đề nào; và sau khi hoàn thành chương trình, học viên cần đạt được những yêu cầu gì về nhận thức, kỹ năng và khả năng vận dụng.

          Đối với giảng viên, cần chủ động tìm hiểu, cập nhật các quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc; nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc phản ánh đúng thực tiễn, tôn trọng sự đa dạng văn hóa và tránh những nhận định phiến diện, định kiến hoặc khái quát hóa thiếu căn cứ về các cộng đồng dân tộc. Đây là yêu cầu quan trọng để bảo đảm tính chính trị, tính khoa học, tính thực tiễn và tính nhân văn của bài giảng.

          2.2. Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tăng cường tình huống thực tiễn và năng lực giải quyết vấn đề

          Muốn nâng cao chất lượng lồng ghép, cần chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu cung cấp thông tin sang tổ chức cho học viên phân tích, trao đổi, xử lý tình huống và vận dụng kiến thức. Đây là hướng đổi mới phù hợp với đặc điểm đào tạo cán bộ, bởi giá trị của kiến thức chỉ được phát huy đầy đủ khi trở thành năng lực hành động trong thực tiễn công tác. Giảng viên có thể sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống, thảo luận nhóm, đóng vai, tọa đàm và giải quyết vấn đề để tổ chức bài học. Chẳng hạn, với tình huống triển khai một chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất tại địa bàn miền núi, học viên cần xác định căn cứ pháp lý, tìm hiểu nhu cầu và điều kiện của người dân, phân tích nguyên nhân có thể dẫn đến sự chưa đồng thuận, xây dựng phương án tuyên truyền, vận động và đề xuất cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện.

          2.3. Nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên và tăng cường nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn về công tác dân tộc

          Giảng viên là chủ thể trực tiếp chuyển hóa nội dung chương trình thành tri thức và năng lực của người học. Vì vậy, chất lượng lồng ghép kiến thức dân tộc phụ thuộc đáng kể vào trình độ chuyên môn, năng lực liên ngành, khả năng cập nhật thực tiễn và phương pháp sư phạm của đội ngũ giảng viên. Nhà trường cần tạo điều kiện để giảng viên tham gia các lớp bồi dưỡng, hội thảo khoa học, tọa đàm chuyên đề về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, quản lý nhà nước ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đồng thời, khuyến khích giảng viên liên hệ, trao đổi chuyên môn với các cơ quan quản lý nhà nước, địa phương và đơn vị có kinh nghiệm thực tiễn để cập nhật những vấn đề mới, những cách làm hiệu quả và những khó khăn phát sinh trong tổ chức thực hiện chính sách. Cùng với bồi dưỡng chuyên môn, cần thúc đẩy nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn theo hướng tập trung vào những vấn đề cụ thể của Quảng Ninh như nghiên cứu về nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số; phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở; bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển sinh kế; nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công tại địa bàn miền núi, biên giới; hoặc vận dụng kiến thức dân tộc trong xử lý các tình huống quản lý ở cơ sở… Kết quả nghiên cứu cần được chuyển hóa thành học liệu, tình huống giảng dạy, tài liệu tham khảo và nội dung trao đổi chuyên môn trong Nhà trường. Qua đó, tạo mối liên hệ hai chiều giữa giảng dạy, nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn; đồng thời từng bước hình thành nguồn tri thức phục vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ gắn với đặc điểm địa phương.

          2.4. Xây dựng hệ thống học liệu và cơ sở dữ liệu thực tiễn phục vụ lồng ghép kiến thức dân tộc

          Một trong những điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng lồng ghép là có nguồn học liệu đáng tin cậy, được cập nhật, có khả năng sử dụng chung và thuận lợi cho giảng viên khai thác. Nhà trường cần từng bước xây dựng, chuẩn hóa hệ thống tài liệu về quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đặc điểm kinh tế – xã hội, văn hóa và dân cư của các địa bàn; các mô hình, cách làm hiệu quả trong công tác dân tộc; cùng những vấn đề mới nảy sinh trong quản lý và phát triển ở cơ sở. Học liệu cần được tổ chức theo chủ đề, gắn với từng nhóm môn học và mục tiêu sử dụng. Bên cạnh văn bản chính thức, có thể xây dựng ngân hàng tình huống, câu hỏi thảo luận, bài tập vận dụng, sơ đồ khái quát chính sách và các bộ dữ liệu phục vụ phân tích. Những tư liệu này phải được kiểm tra nguồn gốc, thời điểm cập nhật, phạm vi áp dụng và mức độ phù hợp trước khi đưa vào giảng dạy. Trong điều kiện chuyển đổi số, việc số hóa học liệu và tổ chức kho tài liệu dùng chung sẽ giúp giảng viên tiếp cận nhanh hơn, hạn chế trùng lặp trong quá trình xây dựng bài giảng và tạo điều kiện cập nhật kiến thức thường xuyên.

          2.5. Tăng cường phối hợp với các cơ quan, địa phương và chủ thể có kinh nghiệm thực tiễn

          Lồng ghép kiến thức dân tộc đạt hiệu quả cao hơn khi có sự kết nối, phối hợp thường xuyên giữa Nhà trường với các cơ quan chuyên môn của thành phố, chính quyền cấp xã, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và những cơ quan, đơn vị liên quan đến công tác dân tộc trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan.

          Thông qua các hoạt động phối hợp, Nhà trường có thể lựa chọn nội dung khảo sát thực tế, mời báo cáo viên có kinh nghiệm, tổ chức trao đổi chuyên đề, thu thập tình huống điển hình và cập nhật kết quả thực hiện chính sách. Việc phối hợp cần tập trung vào những vấn đề mà học viên có thể vận dụng trực tiếp trong công việc, tránh tổ chức theo hình thức hoặc chỉ dừng ở việc tham quan, nghe báo cáo chung. Cần phát huy vai trò của cán bộ cơ sở, người có uy tín trong cộng đồng và những chủ thể am hiểu văn hóa địa phương như nguồn tham khảo thực tiễn phù hợp.

          2.6. Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả lồng ghép theo hướng coi trọng năng lực vận dụng

          Nếu chỉ đánh giá thông qua việc học viên ghi nhớ khái niệm, chủ trương và quy định, Nhà trường sẽ khó xác định mức độ hiệu quả thực chất của hoạt động lồng ghép. Vì vậy, cần kết hợp đánh giá kiến thức với đánh giá kỹ năng phân tích tình huống, lựa chọn phương án và khả năng vận dụng vào nhiệm vụ công tác. Trong quá trình giảng dạy, giảng viên có thể sử dụng câu hỏi tình huống, bài tập nhóm, báo cáo chuyên đề, sản phẩm xử lý tình huống hoặc kế hoạch tổ chức thực hiện một nhiệm vụ cụ thể tại địa phương. Tiêu chí đánh giá cần làm rõ khả năng xác định đúng vấn đề; vận dụng căn cứ chính trị, pháp lý; phân tích đặc điểm cộng đồng; lựa chọn phương án phù hợp; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân; cũng như xác định cách thức phối hợp và đánh giá kết quả.

          Đối với Nhà trường, cần xây dựng cơ chế theo dõi, rà soát định kỳ việc thực hiện nội dung lồng ghép trong chương trình và giáo án; tổ chức trao đổi chuyên môn, dự giờ, đánh giá học liệu và lấy ý kiến phản hồi của học viên. Những kết quả thu được cần được sử dụng để điều chỉnh phương pháp, bổ sung tình huống và hoàn thiện kế hoạch giảng dạy cho các khóa tiếp theo. Việc đánh giá phải bảo đảm phù hợp với quy định hiện hành và mục tiêu của từng chương trình, tránh hình thức. Trọng tâm là xác định được nội dung nào có hiệu quả, nội dung nào cần điều chỉnh và học viên còn thiếu năng lực gì để có biện pháp bồi dưỡng phù hợp.

          Lồng ghép kiến thức dân tộc vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng tại Trường Chính trị Vũ Văn Hiếu là yêu cầu có ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ, đáp ứng nhiệm vụ xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước tại thành phố Quảng Ninh. Với tinh thần chủ động đổi mới, gắn lý luận với thực tiễn, phát huy trách nhiệm của đội ngũ giảng viên và tăng cường phối hợp với các cơ quan, địa phương, Trường Chính trị Vũ Văn Hiếu có cơ sở để từng bước nâng cao chất lượng lồng ghép kiến thức dân tộc trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiến thức chuyên môn toàn diện, kỹ năng công tác phù hợp, gần dân, hiểu dân, tôn trọng Nhân dân, đóng góp thiết thực vào việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển bền vững thành phố Quảng Ninh.

Trần Thị Thu Trang, Khoa Nhà nước và pháp luật